Diện tích đất gieo trồng thu hẹp dần khi các khu công nghiệp, khu đô thị
đang ngày một mở rộng. Trong khi đó, mức sống và nhu cầu sinh hoạt của người
dân cũng ngày một nâng cao.Nếu chỉ dựa vào 1-2sào ruộng trên một lao động như
hiện nay thì đời sống còn gặp nhiều khó khăn. Do vậy, việc tăng hiệu quả kinh
tế trên đơn vị diện tích gieo trồng là hết sức cần thiết. Và để làm được điều
này thì cũng cần có các giải pháp đồng bộ cả về cơ cấu luân canh, lựa chọn cây
trồng có giá trị kinh tế, nâng cao trình độ thâm canh cũng như thay đổi được
nhận thức của người nông dân.
Tuy
nhiên, giá trị của sản phẩm nông nghiệp lại bấp bênh chưa ổn định “được mùa
mất giá, được giá lại mất mùa”. Chính vì vậy, hiện nay mô hình liên kết
"4 nhà" (Nhà nước - nhà nông - nhà khoa học - nhà doanh nghiệp)
trong sản xuất nông nghiệp đang được nhiều ngành, địa phương, doanh nghiệp và
nông dân quan tâm.
Năm
2002-2003 Trung tâm Khảo nghiệm Khuyến nông Khuyến ng Thái bình đã tiến hành
khảo nghiệm và sản xuất thử mô hình lúa Nhật. Đến năm 2006 ông Phạm Văn Hiên
chủ nhiệm Hợp tác xã Thượng Hiền - Kiến Xương đã tiếp nhận mô hình. Ban đầu
chỉ là diện tích nhỏ để thử nghiệm, khi đã hiểu rõ về đặc tính của giống, vai
trò và lợi ích khi thực hiện mối liên kết này, ông đã kết hợp với nhiều địa phương
khác mở rộng diện tích gieo trồng như: Vũ Hoà, An Bồi, Vũ Lễ, Lê Lợi, Bình
Thanh, Quang Trung, Thanh Nê – (Kiến Xương); Tây An, An Ninh – (Tiền Hải);
Song An, Trung An – (Vũ Thư….)
Giống
lúa Nhật có TGST ngắn, vụ xuân 110 ngày, vụ mùa
85-90 ngày. Nếu gieo cấy trong vụ xuân thì hoàn toàn yên tâm giải phóng đất sớm
gieo cấy vụ mùa và điều này rất phù hợp với công thức luân canh 4 vụ (Lúa Nhật
- mạ mùa - lúa mùa - cây màu đông;/ Lúa Nhật - dưa lê hè - Lúa mùa - cây màu
đông; /Lúa Nhật - Lúa mùa cực sớm - 2 vụ màu…).
Giống
còn có khả năng chịu rét
rất tốt, ít sâu bệnh. Điển hình nh vụ xuân năm 2010, tại mô hình
HTX Trung An, lúa trỗ tập trung vào đợt rét đậm,
nhưng kết quả cho thấy tỷ lệ lép thấp, năng
suất cao tương đương với lúa trỗ bình thường. Không những thế, do TGST ngắn nên còn tránh được sâu bệnh hại cuối vụ,
đặc biệt là sâu đục thân và rầy nâu.
Lúa
Nhật thuộc dạng hình bông nhỏ, nhiều bông, năng suất khá cao, thuộc họ Japonica
(hạt bầu, ăn dai, dẻo…) rất phù hợp với thị hiếu tiêu dùng hiện nay và có thể
xuất khẩu nên giá trị cao. Toàn bộ sản lượng được doanh nghiệp thu mua ngay
trong ngày và thanh toán trực tiếp với bà con nông dân. Vụ xuân vừa rồi, năng
suất đạt trung bình 250-270 kg thóc tươi/sào. Sau khi thu hoạch và làm sạch
các hộ gia đình đem cân tươi cho doanh nghiệp với giá 7000đ/kg, trong khi đó
thóc Q5 phơi săn giá 6000đ/kg. Nếu so sánh ngay mức chênh lệch với giống Q5 thì
bà con đã lãi hơn khoảng 250.000đ/sào (cha kể đầu tư chi phí về phân bón và
thuốc Bảo vệ thực vật thấp mà còn tốn ít công lao động và chủ động được ruộng
gieo cấy vụ hè, vụ mùa).
Thông
thường sau khi thu hoạch nếu khâu chế biến
không đảm bảo sẽ ảnh hưởng đến chất lượng thóc gạo, đặc biệt với lúa Nhật,
hạt gạo sẽ bị vàng và gẫy. Do vậy doanh nghiệp phải chủ động thu sản phẩm tươi
để chế biến. Riêng công đoạn này phụ thuộc hoàn toàn vào máy sấy, máy không đủ
công suất thì việc mở rộng thị trường sản xuất quả là còn nhiều khó khăn.
Khi
triển khai chương trình này ông Hiên nhận
thấy vai trò và lợi ích của các bên tham gia đều được nâng lên. Nông
dân có điều kiện tiếp cận với tiến bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp, nâng cao
trình độ thâm canh, yên tâm đầu tư cho sản xuất bởi bài toán khó là đầu ra cho
nông sản đã được giải quyết. Các doanh nghiệp có nguồn nguyên liệu ổn định,
chủ động trong chế biến và tiêu thụ nông sản.
Như vậy, chương trình liên kết 4 nhà trong sản xuất lúa Nhật thực sự đã mang lại hiệu quả rất cao. Tuy nhiên, để mô hình được mở rộng và bền vững cần quan tâm hơn nữa đến khâu chế biến và
tiêu thụ sản phẩm.